Home CNC CÁC PHƯƠNG PHÁP GIA CÔNG HÓA

CÁC PHƯƠNG PHÁP GIA CÔNG HÓA

213
1

Mục tiêu : Sau khi học nghiên cứu xong chương này, người

nghiên cứu có khả năng sau

Hiểu, biết nguyên lý gia công bằng hoá.

Tường minh phương pháp công nghệ, khả năng công nghệ.

Biết tường tận các phương pháp gia công hoá.

I. Nguyên lý gia công :

Gia công hóa là phương pháp gia công không truyền thông, trong đó vật liệu được tách ra khi tiếp xúc trực tiếp với 1 chất khắc hóa mạnh. Phương pháp giac ông này được ứng dụng ngay sau chiến tranh thế giới thứ hai, đầu tiên là trong công nghệ sản xuất máy bay. Nhiều hóa chất khác nhau dùng để tách vật liệu từ 1 chi tiết gia công bằng nhiều cách khác nhau. Tùy theo yêu cầu mà người ta áp dụng các phương pháp phay hóa, khắc hóa, tạo phôi hóa và gia công quang hóa.

II. Các phương pháp công nghệ và khả năng công nghệ :

Phương pháp gia công hóa gồm nhiều bước tùy theo nhu cầu ứng dụng và dạng gia công mà các bước thực hiện sẽ là :

Làm sạch:

Bước đầu tiến là nguyên công làm sạch chi tiết để đảm bảo cho vật liệu được bóc đi đồng đều từ mặt gia công.

Tạo lớp bảo vệ :

Một lớp phủ bảo vệ được đắp lên 1 số bề mặt nào đó của chi tiết. Lớp bảo vệ này được làm bằng vật liệu có khả năng chông lại tác dụng ăn mòn của chất khắc axit. Vì vậy nó sẽ được phủ lên những bề mặt không cần gia công. Những vật liệu của lớp bảo vệ là Neoprene, Polivinil Chloride và các Polyme khác. Lớp bảo vệ có thể được thực hiện bằng nhiều cách như : cắt và bóc, Kháng quang, Kháng dung lưới.

a/ Cắt và bóc : Trong phương pháp này, lớp bảo yệ được phủ lên bề mặt chi tiết bằng cách đắp, sơn hay phun sương với chiều dày khoảng 0,025 – 0,125 mm. Sau khi lớp bảo vệ động cứng lại, người ta dùng dao cắt và bóc đi lớp bảo vệ tại những vùng của chi tiết cần được gia công. Nguyên công cắt lớp bảo vệ được thực hiện bằng tay, dẫn hướng dao bằng một tấm dưỡng mẫu. Phương pháp cắt và bóc được áp dụng cho những chi tiết lớn, số lượng sản phẩm ít với độ chính xác không cao. Phương pháp này không thể đảm bảo sai sô” nhỏ hơn ± 0,125.

b/ Kháng quang : Phương pháp kháng quang sử dụng các kỹ thuật chụp ảnh để thực hiện lớp bảo vệ. Các yật liệu của lớp bảo vệ này có chứa những hóa chất cảm quang. Chúng được phủ lên bề mặt chi tiết và tiếp nhận ánh sáng qua 1 âm bản của các vùng cần được khắc hóa. Sau đó người ta dùng kỹ thuật rửa ảnh để bóc đi các vùng này của lớp bảo vệ. Quá trình này sẽ để lại lớp bảo vệ trên những bề mặt chi tiết cần được bảo vệ. Thường được sử dụng để sản xuất những chi tiết nhỏ số lượng lớn với dung sai khắc khe, có thể nhỏ hơn ±0,0125mm.

c/ Kháng khung lưới : Lớp bảo vệ được sơn lên bề mặt chi tiết gia công qua một tấm lưới bằng lụa hoặc một tấm thép không rỉ. Gắn với tấm lưới này là một khung tô,nhằm tránh cho những vùng cần khắc hóa không bị sởn. Vì vậy lớp bảo vệ được sơn lên những ứng dụng trung gian giữa 2 phương pháp tạo lớp bảo vệ kia về mặt độ chính xác, kích thước và chi tiết sản lượng, dung sai đạt được của phương pháp này là ±0,075 mm.

Khắc hóa :

Đây là bước bóc vật liệu. Khi chi tiết được nhúng chìm trong dung dịch khắc hóa, những phần của chi tiết không có lớp bảo vệ sẽ bị tác động hóa học. Phương pháp ăn mòn thường dùng là biến vật liệu gia công (ví dụ như kim loại) thành muôi hòa tan trong dung dịch khắc hóa, và do đó vật liệu được bóc ra khỏi bề mặt. Sau khi một lượng vật liệu mong muốn được bóc đi, chi tiết được lấy ra khỏi dung dịch khắc hóa và được rửa sạch.

Sự lựa chọn chất khắc hóa phụ thuộc vào vật liệu của chi tiết gia công, chiều sâu mong muôn và tốc độ bóc vật liệu, các yêu cầu về độ nhám bề mặt. Các chất khắc hóa cũng phải phù hợp với loại chất bảo vệ để đảm bảo rằng vật liệu của lớp bảo vệ không tác động hóa học bởi chất khắc hóa. Bảng 3.1 liệt kê một số vật liệu được gia công hóa bằng các chất khắc hóa thường dùng. Trong bảng cũng bao gồm tốc độ thấm và hệ số khắcệ Những thông số này sẽ được giải thích ở phần sau.

Loại lớp bảo vệ :

Lớp bảo vệ được tách ra khỏi bề mặt chi tiết.

Hai bước trong gia công hóa có ảnh hưởng đáng kể về mặt phương pháp, vật liệu, các thông số gia công là bước tạo lớp bảo vệ (2) và khắc hóa (3).

Tốc độ bóc vật liệu trong giac ông hóa thường được biểu thị bằng tốc độ thấm mm/phút. Là tốc độ tác động hóa học vào vật liệu của chi tiết gia công, bởi chất khắc được hướng thẳng vào bề mặt. Tốc độ thắm không bị ảnh hưởng bởi diễn tích bề mặt. Các tốc độ thắm được liệt kê trong bảng 3.1 là các giá trị điển hình cho vật liệu gia công và chất khắc đã cho.

Bảng 3.l:

gch

Các chất khắc hóa tương ứng với vật liệu gia công trong gia

công hóa

Chiều sâu cắt trong gia công hóa có thể đến 12,5mm cho những tấm chi tiết bằng kim loại của máy bay. Tuy nhiên ưong nhiều trường hợp ứng dụng gia công hóa, chiều sâu yêu cầu chỉ vài phần nghìn mm hay thậm chí ít hơnề Cùng với tác động thấm vào chi tiết, quá trình khắc hóa cũng có thể xảy ra phía dưới mặt bên của lớp bảo vệẵ Hiệu ứng này gọi là hiện tượng cắt lẹm và phải được tính đến khi thiết kế lớp bảo vệ để phần cắt phát sinh có kích thuớc xác định được. Đối với 1 loại vật liệu gia công cho trước, lượng cắt lẹm có liện hệ trực tiếp với chiều sâu cắt Hằng số tỉ lệ đối với vật liệu này gọi là hệ số khắc và được xác định như sau :

Fe = U/d

Trong đó : Fe _ là hệ số khắc. U _ độ dài cắt dưới (mm), d _ chiều sâu cắt (mm)Ế Các kích thước u và d được xác định trong hình bên dưới

gch1

Các phương pháp gia công hóa  (phương pháp hóa)

1 COMMENT

LEAVE A REPLY

Please enter your comment!
Please enter your name here