Home CNC Các thông số công nghệ gia công điện hóa

Các thông số công nghệ gia công điện hóa

126
0

1)Năng suất gia công :

Năng suất gia công được tính bằng lượng nguyên liệu được lấy đi trong 1 đơn vị thời gian (cm3/phút) và tỉ lệ thuận với cường độ dòng điện. Như đã xác định theo định luật Faraday, tốc độ tiến của điện cực cũng ảnh hưởng đến năng suất. Tốc độ này là hằng số với điện phân thường dùng là NACL, KCL, và NANO3 và nhiệt độ dung dịch từ 90-:125°C.

Ngoài ra còn các yếu tố như điện áp, khả năng dẫn điện của dung dịch điện phân, vật liệu làm điện cực cũng ảnh hưởng đến năng suất gia công.

Trên hình 4.3 trình bày mối quan hệ với mật độ dòng điện và khe hở giữa dụng cụ và chi tiết. Khe hở này thường có giá trị từ 0,0750,75 mm, giá trị mật độ thường là 2,32 đến 3,1 A/mm2 (15002000 A/inch2) và tốc độ bóc vật liệu tương ứng là 16,38 mm3/phút/l000A.

2)Độ chính xác gia công :

Trong quá trình gia công, giữa vật gia công và mặt đầu của điện cực tồn tại khe hở (h)ẵ

Trong trường hợp khoan lỗ cụt, thì nó có ảnh hưởng tới độ chính xác và độ sâu của lỗề Với tốc độ tiến không đổi của điện cực, thì khe hở là hàm số của điện áp :

 

gcdh2gcdh3

Trong thực tế quan hệ đó thay đổi theo đồ thị hình 4.4.

Có thể thấy rằng đồ thị không phải là đường thẳng do ảnh hưởng của những yếu tô” khác nhau (như dòng chảy). Có thể rút ra kết luận rằng, bằng cách nâng tốc độ tiến điện cực thì có thể giảm sai số của khe hở, tức là giảm sai số gia công, thậm chí có thể nâng điện áp lên thì sẽ làm khe hở trở nên không đổi.

Dòng điện không những chỉ đi qua khe hở mặt đầu, mà cả ở khe hở giữa thành trong của lỗ với mặt bao quanh điện

 

gcdh4

 

 

Kích thước của khe hở trên sẽ là hàm số của độ sâu lỗ như đã trình bày ở hình dưới đây :

gcdh5

Hình 4.6 :

Quan hệ giữa khe hở (6) với độ sâu của lỗ (h) với các tốc độ tiến điện cực (e) khác nhau.

ở đây cũng nhận thấy rằng nếu tăng tốc độ tiến cực thì có thể làm giảm sai số hình dạng. Sai số hình dạng có thể hạn chế bằng cách tạo hình điện cực một cách phù hợp. Nếu bọc cách điện ở chung quanh cho đến cạnh của mặt đầu thì có thể ngăn chặn sự hoà tan ở mặt bên, lỗ sẽ có đường sinh song song. Hình dạng điện cực phổ biến như trên hình 4.7, ở đó, đường kính ngoài của ống nhựa cách điện phải nhỏ để không ngăn cản sự lưu thông của dung dịch. Bán kính vê tròn chu vi ngoài của mặt đầu chỉ là 0,13 – 0,18 mm

Mặt đáy của lỗ không bao giờ bằng phẳng, mà có ụ nổi lên, nếu ta muôn làm nhẩn thì cần có một bước gia công riêng.

gcdh6

Hình 4.7 :

Hình dạng của lỗ được gia công diện hoá bằng điện cực bọc cách điện mặt bao quanh, a: Vật gia công

b: Dung dịch diện phân

c: Điện cực

d: Lớp cách điện

e: Hướng tiến điện cực

Trường hợp gia công lỗ có tiết diện thay đổi, thì không dùng được điện cực có vỏ cách điện. Ớ đây khoảng cách điện cực phụ thuộc rất nhiều vào thông số hình học và các thông số khác, do đó trong thực tế không thể chuẩn bị trước một điện cực được tạo hình theo đúng kích thước và hình dáng của lỗ cần gia công. Bằng thực nghiệm người ta tạo hình điện cực phù hợp. Phương pháp này khá tốn kém, do đó chỉ có trong sản xuất hàng loạt thì mới có hiệu quả kinh tế. Điện cực không mòn, có thể dùng để gia công nhiều lần, độ chính xác của lỗ có thể đảm bảo được 0,02 mm.

Muôn bảo đảm đạt độ chính xác kích thước cao người ta thường lọc sạch dung dịch trong quá trình gia công.

3)Chất lượng bề mặt:

Độ bóng bề mặt khi gia công bằng điện hoá được hình thành rất tốt. Nếu tăng tốc độ tiến của diện cực và tăng cường độ dòng điện sẽ làm giảm độ nhấp nhô của bề mặt, như vậy độ bóng bề mặt rất tốt khi được gia công với công suất lớn. Đặc biệt là thép austenit. Với thép cacbon thì bề mặt thô hơn .Bề mặt sau khi gia công có thể đánh bóng đạtgcdh7 Rmax <1 |nm với thép không rỉ, chịu nhiệt và chịu mài mòn. Vật liệu sau khi gia công vẫn giữ được tính chất của nó, không có sự thay đổi trong cấu trúc, không có ứng suất dư và biến cứng bề mặt.

LEAVE A REPLY

Please enter your comment!
Please enter your name here